Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức, mà đó là công việc của người KHƠI DẬY NGỌN LỬA cho tâm hồn. Học là không bao giờ cảm thấy đủ, LÀ SỰ KHÔN NGOAN. Dạy mà không bao giờ cảm thấy mệt mỏi, ĐÓ LÀ TÌNH YÊU THƯƠNG.Chúng ta không được chọn hoàn cảnh sinh ra, nhưng được quyền tạo dựng nhân cách sống. Người giỏi cần chọn đúng môi trường, đúng ekip và dám sống cuộc đời có ý nghĩa sâu sắc.
Chủ nhật, 1/11/2015, 0:0
Lượt đọc: 3143

TIỂU SỬ ÔNG KỲ ĐỒNG

TIỂU SỬ ÔNG KỲ ĐỒNG

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

KỲ ĐỒNG

(1875 – 1929)

 

Kỳ Đồng tên thật là Nguyễn Văn Cẩm. Ông sinh ngày 08/10/1875 tại làng Ngọc Đình, phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên, nay là xã Văn Cẩm, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Thân sinh Ông là cụ đồ Ty, sống bằng nghề dạy học. Thuở nhỏ, Kỳ Đồng nổi tiếng thông minh học giỏi. Năm lên 8 tuổi, Ông dự kỳ thi khảo khóa để năm sau thi Hương ở trường Nam Định và đỗ loại ưu, được vua Tự Đức ban chỉ dụ khen thưởng, cấp tiền gạo ăn học. Trong thời gian này, Ông làm nhiều bài thơ ca ngợi tinh thần yêu nước của dân tộc ta.

Năm 1887, nhằm tách Kỳ Đồng khỏi phong trào yêu nước của nhân dân ta, thực dân Pháp gởi Ông sang Algérie. Mười năm (1887 – 1896) ở Algérie, Ông có mối quan hệ mật thiết với vua Hàm Nghi.

Năm 1896, Kỳ Đồng về đến Bắc Kỳ và trở thành thủ lĩnh của phong trào yêu nước. Ông tuyển mộ người lên Yên Thế lập đồn điền, xây dụng căn cứ khởi nghĩa chống Pháp.

Tháng 09/1897, Kỳ Đồng bị thực dân Pháp lưu đày biệt xứ tại đảo Marquises.

Ngày 17/7/1929, Kỳ Đồng mất ở Tahiti, thọ 54 tuổi.

 

Ngày nay, tên của Kỳ Đồng – Nguyễn Văn Cẩm vẫn còn lưu truyền trong sử sách. Lịch sử dân tộc Việt Nam ghi nhận Ông là một nhà yêu nước trong phong trào chống Pháp ở những năm cuối thế kỷ XIX./.

 

 KỲ ĐỒNG- NHỮNG GIAI THOẠI

 

Vì ông có tiếng thông minh từ bé, và tương truyền chính vua Tự Đức cũng khen ngợi ông là Kỳ Đồng (đứa trẻ thông minh kỳ lạ), nên tục gọi ông là Kỳ Đồng.

Từ 1887 ông mới 13 tuổi đã tỏ ra có lòng yêu nước, quyết chống giặc Pháp. Vì thế nhân dân xưng tôn ông cầm đầu cuộc kháng chiến. Công sứ Nam Định là Brière sai lính đàn áp cuộc dấy lên của nhóm ông, giải tán và bắt được ông. Chúng không giam ông mà đưa sang Algérie, cho vào trường trung học. Từ 1887 đến 1896 ông học khoa Lý Hóa.

Cuối năm 1896 ông về nước, lúc đó 22 tuổi được nhân dân quanh vùng tỏ lòng tin tưởng. Lúc bấy giờ có phong trào chống Pháp do Mạc Đình Phúc (tức Khóa Trình) cầm đầu đang dấy lên, dân chúng lại tôn ông làm "Quốc sư" tham gia phong trào đó.

Ông bị Pháp theo dõi. Để lôi kéo ông đi hướng khác, một bác sĩ Pháp là Gilard mời ông hợp tác mở đồn điền ở chợ Kỳ. Ông vẫn biết giặc Pháp canh chừng nên chấp nhận việc mở đồn điền, đồng thời ngầm liên lạc với nghĩa quân do Đề Thám chỉ huy.

Thiếu tá Péroz biết việc ông liên kết với Đề Thám, mật báo với Toàn quyền Paul Doumer, rồi bắt ông đem về Hải Phòng. Ít lâu đưa đi đày ở Polynésie thuộc quần đảo Marquise.

Năm 1929 ông mất tại đảo ấy, hưởng dương 55 tuổi.

Thơ ông còn được truyền tụng rất nhiều. Lúc bị đày ở đảo, ông có làm bài thơ cảm tác nói lên tâm sự của mình.

Cô đăng khiêu tận vị thành niên,
Tinh nhật ôi ôi ốc thượng huyền.
Thân ngọa cô sàng vô bản địa,
Nguyệt lâm tiểu địa bất cao thiên.
Kim triêu vị tác trần trung khách,
Tha nhật nhưng thành thi thượng liên.
Thử nội tài hoa chân bất thiểu,
Thi ngôn vương đạo đăng biền biên.
 

Bản dịch:
Đèn riêng bấc lụi còn thao thức,
Vằng vặc trăng sao bạc mái nhà.
Xứ lạ giừơng riêng càng thấy le,
Trăng soi chốn hẹp chiếu bao la.
Hôm nay chưa phai là tân khách,
Ngày khác thành tiên ắt chăng ngoa.
Đất Việt người tài đâu phải hiếm,
Còn cơ hưng vượng đẹp như hoa.
 

Đặc biệt ông cũng có làm bài Thu dạ lư hoài ngâm bằng hán văn thể song thất lục bát, như Đinh Nhật Thận khi trước. Và lúc đày ở đảo Marquise ông giao du thân mật với nhà danh họa Gaugin nên học vẽ cũng xuất sắc.

Câu đối hồi còn bé 

Lúc Kỳ Đồng mới trên mười tuổi, một giám mục thấy có vẻ thông minh, khen ngợi và ngỏ ý đưa cậu đi theo đạo Thiên chúa. Cậu bé không ưng. Giám mục lắc đầu thốt ra:

- Một thằng ba chỏm tóc! 

Kỳ Đồng ứng khẩu đáp lại:

- Ba cụ chín chòm râu! 

Viên tri phủ Tiên Hưng có lần ra câu đối thách cậu:

- Đứng giữa đình Trung Lập! 

Kỳ Đồng đối lại:

- Dấy trước phủ Tiên Hưng! 

Trung lập là đứng giữa, Tiên Hưng lại là dấy trước. Câu đối rất chỉnh mà làm cho người ta để ý. Dấy trước! Cậu bé đã có tư tưởng "làm loạn" chăng?

Chính là tôi 

Dư luận đồn rằng Kỳ Đồng đã dám đối đáp với cụ Tam nguyên Yên Đổ. Một hôm, cậu đến nhà cụ thì Yên Đổ đang bận giảng sách cho học trò. Người nhà thấy cậu bé con cũng có ý khinh thường, hỏi họ tên. Cậu nói:

- Cứ bảo tôi là một khóa sinh, xin đến gặp cụ Hoàng. Nói thế là đủ.

Yên Đổ nghe báo lấy làm lạ, bảo người nhà đem ra một vế câu đối. Nếu đúng là khóa sinh thì đối được, ta sẽ ra tiếp.

- Quả ngôn viết khóa, nhất nhân khẩu mệnh, vị thùỷ

Nghĩa là:

- Tự xưng là khóa sinh, một mình đến gặp ta, ai vậy? 

Câu đối khó vì là một câu chiết tự. Chữ khóa gồm chữ quả và chữ ngôn. Chữ mệnh gồm chữ nhất, chữ nhân và chữ khẩu. Kỳ Đồng không lúng túng, ngẫm nghĩ một chốc rồi đối lại:

- Nhập mỗ ngôn công, thiên lý hành xung, thị ngã! 

Nghĩa là:

- Người đến nói với ông, từ nghìn dặm đường đột, là tôi! 

Câu này cũng tài tình vì chữ công, gồm hai chữ nhập và mỗ. Còn chữ xung gồm các chữ thiên, lý và hành.

Yên Đổ vô cùng khâm phục, vội khăn áo chỉnh tề, ra đón người bạn nhỏ!

Không dùng ta, lấy ai giúp nước? 

Kỳ Đồng có một bài thơ, nhân dân truyền tụng, có lẽ phần lớn người ta cũng qua bài thơ mà thấy được chí hướng và tinh thần tự cao của ông. Dưới đây là bản dịch:

Thiên hạ rối bời khó tính a!
Ngày ngày thật lắm chuyện bê tha
Dân cùng mấy độ mưa rồi hạn
Giặc đến bao phen đánh lại hòa
Chẳng khác củi kề bên bếp lửa
Làm sao dẹp sóng chốn khơi xa
Ông trời muốn mở nền bình trị
Bỏ tớ thì ai giúp nước nhà?
 

Tác giả: Admin

Công ty cổ phần phần mềm Quảng Ích

163